Phong tục treo câu đối đỏ

Mỗi độ Tết đến xuân về, từ chốn thành thị nhộn nhịp cho đến những làng quê yên bình, phong tục treo câu đối đỏ lại trở thành một nét đẹp quen thuộc trong đời sống văn hóa của người Việt Nam. Những câu đối ấy không chỉ góp phần trang hoàng nhà cửa, mà còn nhắc nhở con cháu về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, về lòng biết ơn và tưởng nhớ tổ tiên. Đồng thời, đó cũng là nơi gửi gắm những ước nguyện tốt lành cho một năm mới an khang, thịnh vượng, may mắn và hạnh phúc.

Phong tục Treo câu đối đỏ - Tử Vi Cổ Học
Phong tục Treo câu đối đỏ – Tử Vi Cổ Học

Cùng với việc mua sắm Tết, dựng cây nêu, người ta còn chuẩn bị cau, chè để đến xin chữ, xin câu đối ở các cụ Nghè, cụ Cử – những người có học vấn, chữ nghĩa uyên thâm. Trước đây, từ tầng lớp Nho sĩ cho đến những người dân bình thường, ai cũng coi trọng tục treo “câu đối đỏ” mỗi dịp Tết đến. Những câu đối này thường được viết bằng chữ Nho, bằng mực đen hoặc vàng trên nền giấy đỏ hay giấy hồng đào, vì thế mà được gọi chung là câu đối đỏ.

Câu đối còn được gọi là “liễn”. Liễn thường là những dải giấy dài màu đỏ hoặc hồng đào, hai đầu có gắn trục gỗ hoặc tre để khi treo lên được ngay ngắn, trang trọng. Cũng có khi liễn chỉ là những dải giấy đơn giản, tiện cho việc dán ở những vị trí như hai bên bàn thờ, cột nhà hay cổng ngõ. Ở các vùng thôn quê xưa, mỗi dịp Tết đến, người ta còn cẩn thận dán câu đối đỏ lên cửa chuồng trâu, chuồng bò, hoặc trên thân các loại cây như dừa, nhãn, ổi… với mong ước vật nuôi sinh trưởng tốt, cây cối sai hoa kết trái, mọi sự đều thuận lợi, tốt lành.

Những gia đình không có điều kiện tự viết câu đối thường tìm đến các cụ đồ Nho – những người chuyên viết chữ và bán câu đối mỗi dịp xuân về. Hình ảnh “ông đồ” bên mực tàu, giấy đỏ đã trở thành một biểu tượng văn hóa đặc trưng của ngày Tết xưa.

Gọi là câu đối đỏ bởi theo quan niệm dân gian, màu đỏ tượng trưng cho sức sống mạnh mẽ, cho sự may mắn và cát tường. Sắc đỏ ấy nổi bật, hài hòa với màu xanh của bánh chưng, sắc vàng của hoa mai, tạo nên một không khí Tết ấm áp, rộn ràng và đầy sức sống. Nội dung của các câu đối thường là những lời chúc tụng, cầu mong điều tốt đẹp, chẳng hạn như:

Phước thâm tự hải
Lộc cao như sơn

(Hạnh phúc sâu như biển
Tài lộc cao như núi)

Người xưa đã sáng tạo nên thể loại văn đối vô cùng độc đáo: tuy ngắn gọn, ít chữ nhưng hàm chứa ý nghĩa sâu sắc. Mỗi câu đối như một lời nhắc nhở, một triết lý sống, giúp con người hướng thiện, yêu đời và trân trọng công việc, cuộc sống hơn.

Vậy tục treo câu đối Tết có từ bao giờ? Theo sách xưa ghi lại, người Bách Việt thời cổ có tục treo “đào phù” vào dịp Tết Nguyên đán. Đó là những tấm bùa gỗ khắc hình hai vị thần Thần Đồ và Uất Lũy, treo hai bên cửa để trấn giữ, xua đuổi tà ma. Hai vị thần này được cho là cai quản quỷ dữ dưới gốc cây đào lớn trên núi Độ Sóc, hễ con quỷ nào vượt ra ngoài quấy phá dân gian sẽ bị trừng trị. Về sau, tục treo đào phù dần được thay thế bằng việc treo câu đối hai bên cửa.

Khi đời sống ngày càng phát triển, mỗi người lại gửi gắm vào câu đối những suy nghĩ, niềm vui và ước vọng riêng cho năm mới. Đến thế kỷ XV, thú chơi câu đối Tết đã trở nên phổ biến rộng rãi. Từ kinh thành đến các vùng quê, từ dinh thự quan lại đến nhà dân thường, đâu đâu cũng thấy câu đối đỏ treo trước cửa. Thậm chí, nhiều cửa hàng, hiệu buôn còn treo câu đối liên quan đến nghề nghiệp của mình.

Tương truyền rằng, vào một dịp gần Tết, vua Lê Thánh Tông dạo phố để xem dân chúng chuẩn bị đón xuân. Khi đi qua một ngôi nhà không treo câu đối, vua dừng lại hỏi thăm và biết đó là nhà một người thợ nhuộm góa vợ, con trai đi vắng. Nhà vua liền lấy giấy bút và đề tặng một câu đối:

Thiên hạ thanh hoàng giai ngã thủ
Triều đình chu tử tổng ngõ gia

(Xanh vàng thiên hạ đều tay tớ
Đỏ tía triều đình tự cửa ta)

Không chỉ mang ý nghĩa chúc tụng, câu đối Tết còn là nơi để các văn nhân thể hiện chí hướng, bộc lộ quan điểm hoặc châm biếm thói hư tật xấu của xã hội. Chẳng hạn như câu đối của Trần Tế Xương:

Thiên hạ xám rồi còn đốt pháo
Nhân tình bạc thế, lại bôi vôi

Hay những vần đối đầy phóng khoáng của Hồ Xuân Hương:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn
Ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới
Sáng mồng một, lỏng theo tạo hóa
Mở toang ra, cho thiếu nữ đón xuân vào

Ngày xưa, câu đối chủ yếu được viết bằng chữ Nho, nhưng nhiều danh sĩ Việt Nam đã sáng tạo và sử dụng chữ Nôm để thể hiện bản sắc dân tộc. Đầu thế kỷ XX, Nguyễn Khuyến là một trong những người tiêu biểu đã đưa ca dao, tục ngữ, thành ngữ vào câu đối một cách tài tình. Trong số 67 câu đối còn lưu lại của ông, có tới 47 câu viết bằng chữ Nôm. Một trong những câu đối nổi tiếng của ông đã khắc họa sinh động cảnh Tết của một gia đình nghèo nhưng vẫn tràn đầy niềm vui:

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa
Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà

Trong những năm gần đây, người Hà Nội vẫn giữ được tình yêu với nghệ thuật thư pháp chữ Nho, chữ Nôm thông qua nét bút của các nhà Nho như Bùi Hạnh Cẩn, Lê Xuân Hòa, Nguyễn Văn Bách, Trần Lê Văn… Bên cạnh việc bốc thuốc, dạy học, nghiên cứu, họ còn say mê viết chữ chân, chữ thảo, chữ lệ để tặng những người yêu thư pháp. Nét bút của họ, vốn đã cứng cáp, mạnh mẽ, khi hòa cùng không khí mùa xuân lại càng trở nên mềm mại, bay bổng và đầy nghệ thuật.

Hằng năm, vào dịp Tết, tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám lại diễn ra các hoạt động triển lãm thư pháp, thư họa. Đây là dịp để các nhà Nho được mời đến viết câu đối Tết, tái hiện không gian văn hóa xưa, thu hút đông đảo người dân và du khách trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng. Vẻ đẹp cổ kính của câu đối đỏ vì thế vẫn được lưu giữ, tiếp nối qua bao thế hệ, trở thành một phần không thể thiếu trong hồn Tết Việt.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *